bệnh án tâm thần rối loạn lo âu
Một nghiên cứu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) về rối loạn tâm thần ở bệnh viện đa khoa trên 25.000 bệnh nhân ở 14 quốc gia cho thấy 1/4 có rối loạn tâm thần. Rối loạn tâm lý thường gặp nhất là lo âu. Lo âu có thể là biến chứng của điều trị hoặc xuất phát
Trị liệu tâm lý: Về cơ bản, rối loạn lo âu là một dạng bệnh tâm thần. Chính vì thế, cách hiệu quả để chữa dứt điểm rối loạn lo âu là trị liệu tâm lý. Mong rằng bài viết này đã giúp bạn hiểu rõ hơn về thuốc trị rối loạn lo âu và cách điều trị hiệu quả
Tùy vào mức độ bệnh, các bác sĩ sẽ chỉ định bệnh nhân sử dụng một số loại thuốc điều trị rối loạn lo âu như: Thuốc chống trầm cảm (phổ biến nhất là thuốc chống trầm cảm 3 vòng và thuốc ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc) Thuốc an thần. Thuốc chẹn
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Nhiều loại thuốc có thể gây lo lắng. Các nguyên nhân khác bao gồm sử dụng ma túy; ảnh hưởng của các corticosteroid, cocain, amphetamin, và thậm chí cả caffein cũng có thể bắt chước các rối loạn lo âu. Các triệu chứng cai rượu , thuốc bình
Rối loạn tiêu hóa, thay đổi khẩu vị, tăng hoặc sụt cân: Khi tinh thần và cảm xúc thay đổi sẽ làm thay đổi khẩu vị. Rối loạn lo âu, căng thẳng kéo dài sẽ ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất của cơ thể. Một số người bệnh có thể bị tăng cân một cách không
Site De Rencontre Pour Femmes Et Hommes Mariés Gratuit. Rối loạn lo âu về bệnh tật là nỗi lo và sợ về việc có hoặc mắc phải một rối loạn nghiêm trọng. Chẩn đoán được xác nhận khi những lo ngại và triệu chứng nếu có tồn tại ≥ 6 tháng mặc dù được đảm bảo sau khi đánh giá y tế kỹ lưỡng. Điều trị bao gồm việc thiết lập một mối quan hệ bác sĩ - bệnh nhân lâu dài, hỗ trợ; liệu pháp nhận thức và hành vi và thuốc ức chế tái hấp thu serotonin có thể giúp rối loạn lo âu bệnh tật trước đây được gọi là bệnh tưởng hoặc chứng nghi bệnh, các thuật ngữ đã bị bỏ qua vì hàm ý đáng sợ của các thuật ngữ đó thường bắt đầu ở tuổi trưởng thành và dường như xảy ra giống nhau giữa nam giới và nữ giới. Các nỗi sợ của bệnh nhân có thể xuất phát từ việc diễn giải sai các triệu chứng cơ thể không phải bệnh lý hoặc các chức năng cơ thể bình thường ví dụ, chứng sôi bụng, chướng bụng và khó chịu, cảm giác nhịp tim, đổ mồ hôi. Các triệu chứng và dấu hiệu của rối loạn lo âu về bệnh tật Bệnh nhân bị rối loạn lo âu về bệnh tật thường rất lo lắng với ý nghĩ rằng họ đang hoặc có thể bị ốm, nỗi lo về bệnh tật làm suy giảm chức năng hoạt động xã hội và nghề nghiệp hoặc gây ra những căng thẳng đáng kể. Bệnh nhân có thể có hoặc không có các triệu chứng thực thể, nhưng nếu có, mối quan tâm của họ là về tác động có thể xảy ra của các triệu chứng hơn là bản thân các triệu chứng ví dụ, bản thân cảm giác khó chịu ở dạ dày ít gây phiền toái cho họ hơn là khả năng đó có thể là ung thư.Một số bệnh nhân tự khám mình nhiều lần ví dụ như nhìn vào cổ họng của họ trong gương, kiểm tra da để tìm tổn thương. Họ dễ dàng bị báo động bởi những cảm giác cơ thể mới. Một số bệnh nhân đến bác sĩ thường xuyên kiểu người tìm kiếm chăm sóc; những người khác hiếm khi tìm đến sự chăm sóc y tế kiểu người né tránh chăm sóc.Diễn biến thường mạn tính – dao động ở người này, ổn định ở người khác. Một số bệnh nhân hồi phục. Đánh giá lâm sàngChẩn đoán rối loạn lo âu bệnh tật dựa trên các tiêu chuẩn từ Cẩm nang chẩn đoán và thống kê về rối loạn tâm thần, Ấn bản lần thứ 5 DSM-5-TR, bao gồm các tiêu chuẩn sau Bệnh nhân bận tâm lo lắng về việc có hoặc mắc phải bệnh nghiêm nhân không hoặc tối thiểu có các triệu chứng cơ nhân rất lo lắng về sức khỏe và dễ bị báo động về các vấn đề sức khỏe cá nhân liên tục kiểm tra tình trạng sức khỏe hoặc né tránh các cuộc gặp với bác sĩ hoặc tới bệnh viện một cách không phù nhân đã bận tâm về bệnh tật trong ≥ 6 tháng, mặc dù lo ngại về bệnh tật cụ thể có thể thay đổi trong khoảng thời gian đó. Triệu chứng không được giải thích thỏa đáng hơn bởi trầm cảm hoặc rối loạn tâm thần khác. Đôi khi các thuốc ức chế tái hấp thu serotonin hoặc liệu pháp nhận thức-hành viBệnh nhân có thể có lợi từ việc có một mối quan hệ tin cậy với một bác sĩ tận tâm và đảm bảo. Nếu các triệu chứng không được giảm bớt, bệnh nhân có thể được lợi từ việc hỗ trợ từ chuyên khoa tâm thần khi họ vẫn tiếp tục được chăm sóc bởi bác sĩ chính của trị bằng thuốc ức chế tái hấp thu serotonin có thể hữu ích, cũng như liệu pháp hành vi nhận thức. Bản quyền © 2023 Merck & Co., Inc., Rahway, NJ, USA và các chi nhánh của công ty. Bảo lưu mọi quyền.
Những rối loạn nhân cách nói chung là các hình thái lan tỏa và kéo dài về suy nghĩ, nhận thức, phản ứng, và liên quan đến việc gây ra tình trạng đau khổ đáng kể hoặc suy giảm chức năng. Các rối loạn nhân cách khác nhau đáng kể trong các biểu hiện của chúng, nhưng tất cả đều được cho là do sự kết hợp của các yếu tố di truyền và môi trường. Nhiều rối loạn dần trở nên ít trầm trọng hơn theo độ tuổi, nhưng những đặc tính nhất định vẫn có thể tồn tại ở một mức độ nào đó sau các triệu chứng cấp tính dẫn đến việc gợi ý chẩn đoán giảm đi. Chẩn đoán là lâm sàng. Điều trị bằng phương pháp trị liệu tâm lý xã hội và đôi khi điều trị bằng tính nhân cách đại diện cho các mẫu suy nghĩ, nhận thức, phản ứng và các mối quan hệ có tính chất tương đối ổn định theo thời gian. Rối loạn nhân cách tồn tại khi những đặc tính trở nên rõ ràng, cứng nhắc, và không thích nghi làm suy giảm chức năng tương tác cá nhân và/hoặc công việc. Những sự không thích nghi xã hội này có thể gây ra những khó chịu đáng kể với những người có rối loạn nhân cách và những người xung quanh họ. Đối với những người có rối loạn nhân cách không giống như những người khác tìm kiếm đến sự tư vấn, nỗi đau khổ do hậu quả của hành vi không thích nghi xã hội của bản thân thường là lý do họ tìm kiếm đến sự điều trị, hơn là bất kỳ sự không thoải mái nào với những suy nghĩ và cảm xúc của họ. Do đó, đầu tiên bác sĩ lâm sàng phải giúp bệnh nhân nhận thấy rằng đặc tính nhân cách của họ là gốc rễ của vấn loạn nhân cách thường bắt đầu trở nên rõ ràng trong giai đoạn muộn ở độ tuổi vị thành niên hoặc giai đoạn đầu ở độ tuổi người lớn, và các đặc tính và các triệu chứng của chúng khác nhau đáng kể về mức độ kéo dài của chúng; nhiều trường hợp cần thời gian để giải quyết. Các đặc tính và các triệu chứng của chúng khác nhau đáng kể về mức độ kéo dài của chúng; nhiều trường hợp cần thời gian để giải quyết. Cẩm nang chẩn đoán và thống kê về rối loạn tâm thần, Ấn bản lần thứ Năm DSM-5 liệt kê 10 loại rối loạn nhân cách Các loại rối loạn nhân cách Những rối loạn nhân cách nói chung là các hình thái lan tỏa và kéo dài về suy nghĩ, nhận thức, phản ứng, và liên quan đến việc gây ra tình trạng đau khổ đáng kể hoặc suy giảm chức năng. Các... đọc thêm , mặc dù hầu hết bệnh nhân đáp ứng tiêu chí cho một loại cũng đáp ứng tiêu chí cho một hoặc nhiều loại khác. Một số loại ví dụ, chống đối xã hội Rối loạn nhân cách chống đối xã hội ASPD Rối loạn nhân cách chống đối xã hội được đặc trưng bởi một hình thái của việc không quan tâm đến hậu quả và quyền lợi của người khác. Chẩn đoán theo tiêu chuẩn lâm sàng. Điều trị có thể bao... đọc thêm , ranh giới Rối loạn nhân cách ranh giới BPD Rối loạn nhân cách ranh giới được đặc trưng bởi một hình thái toàn thể về sự không ổn định và quá nhạy cảm trong các mối quan hệ giữa các cá nhân, sự mất ổn định về hình ảnh của bản thân, sự... đọc thêm có xu hướng giảm bớt hoặc biến mất khi con người già đi; những người khác ví dụ, ám ảnh cưỡng chế Rối loạn nhân cách ám ảnh nghi thức OCPD Rối loạn nhân cách ám ảnh nghi thức được đặc trưng bởi một sự bận tâm lan tỏa về trật tự, chủ nghĩa hoàn hảo và sự kiểm soát không có chỗ cho sự linh hoạt mà cuối cùng làm chậm hoặc ngăn cản... đọc thêm , tâm thần phân liệt Rối loạn nhân cách loại phân liệt STPD Rối loạn nhân cách loại phân liệt được đặc trưng bởi một hình thái lan tỏa của sự khó chịu dữ dội và giảm khả năng cho các mối quan hệ gần gũi, do nhận thức và cảm nhận sai lầm, và do hành vi... đọc thêm ít có khả năng làm như 10% dân số nói chung và tới một nửa số bệnh nhân tâm thần ở các đơn vị bệnh viện và phòng khám có rối loạn nhân cách. Nhìn chung, không có sự khác biệt rõ ràng về giới tính, tầng lớp kinh tế xã hội và chủng tộc. Tuy nhiên, trong rối loạn nhân cách chống đối xã hội, nam giới gặp nhiều hơn nữ giới với tỉ lệ 61. Trong rối loạn nhân cách ranh giới, phụ nữ chiếm tỉ lệ lớn hơn nam giới 31 nhưng chỉ ở các cơ sở lâm sàng chứ không phải ở dân số chung.Đối với hầu hết các rối loạn nhân cách, tỉ lệ di truyền khoảng 50%, tương đương hoặc cao hơn nhiều so với nhiều rối loạn tâm thần điển hình khác. Tỷ lệ di truyền này đối ngược với giả thuyết chung rằng các rối loạn nhân cách là những khiếm khuyết về nhân cách chủ yếu hình thành bởi một môi trường bất lợi. DSM-5 nhóm 10 loại rối loạn nhân cách thành 3 nhóm A, B, và C, dựa trên các đặc điểm tương tự. Tuy nhiên, sự hữu ích lâm sàng của các nhóm này vẫn chưa được thiết A được đặc trưng bởi tính kỳ quặc hoặc lập dị. Nó bao gồm các rối loạn nhân cách sau đây với các đặc điểm phân biệt của chúngNhóm B được đặc trưng bởi tính kịch tính, xúc cảm, hoặc thất thường. Nó bao gồm các rối loạn nhân cách sau đây với các đặc điểm phân biệt của chúngNhóm C được đặc trưng bởi đặc tính lo âu hoặc sợ hãi. Nó bao gồm các rối loạn nhân cách sau đây với các đặc điểm phân biệt của chúng Các triệu chứng và dấu hiệu của rối loạn nhân cách Theo DSM-5, rối loạn nhân cách chủ yếu là vấn đề của Sự tự xác định bản thân Hoạt động giữa các cá nhânCác vấn đề tự xác định bản thân có thể biểu hiện như một hình ảnh không ổn định về bản thân ví dụ như có người dao động bản thân giữa sự tự tế hay sự xấu xa hoặc là những điểm không nhất quán trong các giá trị, mục tiêu và ngoại hình ví dụ như có người có tính tôn giáo sâu sắc khi ở nhà thờ, nhưng lại báng bổ và thiếu tôn trọng ở những nơi khác.Những vấn đề liên quan đến tương tác cá nhân thường biểu hiện bởi sự thất bại trong việc phát triển hoặc duy trì các mối quan hệ gần gũi và/hoặc thiếu nhạy cảm với người khác ví dụ, không thể đồng cảm.Những người có rối loạn nhân cách thường có vẻ không nhất quán, bối rối và bực bội đối với những người xung quanh họ bao gồm cả các bác sĩ lâm sàng. Những người này có thể gặp khó khăn trong việc biết ranh giới giữa chính họ và những người khác. Lòng tự trọng của họ cao hay thấp một cách không thích hợp. Họ có thể có các hình thức nuôi dạy con không phù hợp, tách rời, quá xúc cảm, lạm dụng, hoặc không có trách nhiệm, có thể dẫn đến các vấn đề về thể chất và tinh thần ở vợ/chồng và/hoặc con cái của người có rối loạn nhân cách có thể không nhận ra rằng họ có vấn đề. Tiêu chuẩn lâm sàng DSM-5Rối loạn nhân cách bị chẩn đoán thiếu. Khi những người bị rối loạn nhân cách tìm cách điều trị, những phàn nàn chủ yếu của họ thường là trầm cảm hoặc lo âu hơn là những biểu hiện của rối loạn nhân cách của họ. Một khi các nhà lâm sàng nghi ngờ có một rối loạn nhân cách, họ đánh giá các khuynh hướng nhận thức, cảm xúc, tương tác cá nhân và hành vi sử dụng các tiêu chuẩn chẩn đoán cụ thể. Có nhiều công cụ chẩn đoán tinh vi và thực nghiệm hơn dành cho các chuyên gia lâm sàng chuyên sâu đoán rối loạn nhân cách đòi hỏi những điều sau đây Một hình thái dai dẳng, không có tính mềm dẻo, mang tính xâm phạm về các đặc tính không thích nghi liên quan đến ≥ 2 trong số những điều sau đây nhận thức các cách hoặc nhận thức và giải thích về bản thân, những người khác và các sự kiện, tính xúc cảm, chức năng tương tác cá nhân và kiểm soát xung độngKhó chịu hoặc sự suy giảm chức năng đáng kể là kết quả từ hình thái không thích nghiTính ổn định tương đối và sự khởi phát sớm bắt nguồn từ ít nhất là tuổi vị thành niên hoặc giai đoạn đầu trưởng thành của mô hìnhĐối với các rối loạn nhân cách được chẩn đoán ở những bệnh nhân 1 năm. Nền tảng cho việc thực hiện thay đổi đó là Trị liệu tâm lý cá nhânTrong quá trình điều trị, bác sĩ lâm sàng cố gắng xác định các vấn đề về mối quan hệ giữa các cá nhân như khi chúng xảy ra trong đời sống của bệnh nhân. Các bác sĩ sẽ giúp bệnh nhân hiểu được những vấn đề này liên quan đến tính cách của họ như thế nào và cung cấp đào tạo kỹ năng để phát triển những cách tương tác mới tốt hơn. Thông thường, bác sĩ lâm sàng phải chỉ ra nhiều lần các hành vi không mong muốn và hậu quả của chúng trước khi bệnh nhân nhận thức được chúng. Chiến lược này có thể giúp bệnh nhân thay đổi hành vi không thích nghi và nhầm lẫn niềm tin. Mặc dù các bác sĩ lâm sàng nên tác động với sự nhạy cảm, họ nên biết rằng sự tử tế và lời khuyên nhạy cảm của họ không làm thay đổi các rối loạn nhân cách. Rối loạn nhân cách bao gồm các tính cách cứng nhắc, không thích nghi được cho là đủ để gây ra tình trạng đau khổ đáng kể hoặc làm suy giảm đến công việc và/hoặc chức năng tương tác giữa các cá phương pháp trị liệu trở nên hiệu quả chỉ sau khi bệnh nhân thấy rằng các vấn đề của họ là ở bên trong chính họ, không chỉ là các nguyên nhân bên liệu pháp tâm lý xã hội là phương pháp điều trị giúp kiểm soát các triệu chứng cụ thể chỉ trong các trường hợp chọn lọc - ví dụ như để kiểm soát lo âu đáng kể, cơn tức giận và trầm loạn nhân cách thường không thay đổi, nhưng nhiều rối loạn dần dần trở nên ít nghiêm trọng hơn theo thời gian. Sau đây là một nguồn thông tin bằng tiếng Anh có thể hữu ích. Vui lòng lưu ý rằng CẨM NANG không chịu trách nhiệm về nội dung của tài liệu này. Skodol AE, Bender DS, Oldham JM Personality pathology and personality disorders. Trong American Psychiatric Association Publishing Textbook of Psychiatry, 7th Edition, do LW Roberts hiệu đính, Washington, DC, 2019, pp. 711-748.
Rối loạn giả bệnh là sự giả mạo các triệu chứng cơ thể hoặc tâm lý mà không có động cơ bên ngoài rõ ràng; động lực cho hành vi này được cho rằng vai trò của việc ốm yếu. Các triệu chứng có thể là cấp tính, kịch tính và có tính thuyết phục. Bệnh nhân thường đi từ bác sĩ này sang bác sĩ khác, từ bệnh viện này sang bệnh viện khác để điều trị. Nguyên nhân không được biết rõ ràng, mặc dù các stress và rối loạn nhân cách nặng có liên quan, thường là rối loạn nhân cách ranh giới. Chẩn đoán là lâm sàng. Không có phương pháp điều trị hiệu quả rõ bệnh nhân này, ban đầu và đôi khi là kéo dài, trở thành trách nhiệm chăm sóc của các phòng khám y tế hoặc phẫu thuật. Tuy nhiên, rối loạn là một vấn đề tâm thần, phức tạp hơn so với việc giả bộ không thật thà đơn giản của các triệu chứng, và có liên quan đến những khó khăn nghiêm trọng về cảm nhân có thể có tiền sử về bị lạm dụng cảm xúc và thể chất. Bệnh nhân cũng có thể trải qua một bệnh trầm trọng trong thời thơ ấu hoặc có người thân bị ốm nặng. Bệnh nhân dường như có vấn đề với nhân dạng của họ cũng như các mối quan hệ không ổn định. Giả bệnh tật có thể là cách để tăng hoặc bảo vệ lòng tự trọng bằng cách đổ lỗi những thất bại cho bệnh tật, bằng việc kết hợp với các bác sĩ có uy tín và các trung tâm y tế và/hoặc bằng việc biểu hiện hiếm thấy, liều lĩnh, hoặc có hiểu biết về y khoa và tinh vi. Triệu chứng và Dấu hiệu Bệnh nhân rối loạn giả bệnh lên bản thân có thể phàn nàn hoặc giả vờ các triệu chứng cơ thể mà gợi ý cho các rối loạn cụ thể ví dụ, đau bụng gợi ý bụng ổ bụng cấp tính, nôn ra máu. Bệnh nhân thường biết nhiều triệu chứng và đặc điểm liên quan đến rối loạn mà họ đang giả vờ ví dụ, cơn đau từ bệnh nhồi máu cơ tim có thể lan sang cánh tay trái hoặc hàm hoặc được đi kèm với toát mồ hôi.Đôi khi họ mô phỏng hoặc tạo ra các bằng chứng cơ thể ví dụ, ngâm một ngón tay để gây nhiễm bẩn mẫu nước tiểu với máu, tiêm các vi khuẩn dưới da để tạo ra sốt hoặc áp xe, trong những trường hợp đó, Escherichia coli thường là sinh vật lây nhiễm. Thành bụng của họ có thể bị chéo ngang bởi những vết sẹo từ việc mở bụng thăm dò, hoặc một ngón hoặc chi bị cắt bỏ. Đánh giá lâm sàngChẩn đoán rối loạn giả bệnh lên bản thân phụ thuộc vào tiền sử và việc thăm khám, cùng với các xét nghiệm cần thiết để loại trừ các rối loạn thể chất và biểu hiện cường điệu, hư cấu, mô phỏng, và/hoặc gây ra các triệu chứng cơ thể. Hành vi phải xảy ra khi không có các động cơ bên ngoài rõ ràng ví dụ như thời gian nghỉ việc, bồi thường tài chính cho thương tật. Không có phương pháp điều trị hiệu quả rõ ràngViệc điều trị rối loạn giả bệnh lên bản thân thường là thách thức và không có phương pháp điều trị hiệu quả rõ ràng. Bệnh nhân có thể có sự thuyên giảm ban đầu bằng cách đáp ứng các nhu cầu điều trị của họ, nhưng các triệu chứng của họ thường leo thang, cuối cùng vượt qua những gì các bác sĩ sẵn sàng hoặc có thể làm. Sự đối đầu hoặc từ chối đáp ứng nhu cầu điều trị thường dẫn đến phản ứng tức giận, và bệnh nhân thường chuyển từ bác sĩ hoặc bệnh viện này sang bệnh viện khác gọi là hành trình chữa bệnh.Nhận diện sớm được rối loạn và yêu cầu tham vấn tâm thần hoặc tâm lý sớm là rất quan trọng, để tránh các thử nghiệm xâm lấn nguy hiểm, thủ thuật ngoại khoa và sử dụng thuốc quá mức hoặc những thuốc không được đảm phương pháp tiếp cận không gây hấn, không trừng phạt, không đối đầu nên được sử dụng để đưa một chẩn đoán rối loạn giả bệnh cho bệnh nhân. Để tránh gợi ý tội lỗi hoặc hổ thẹn, bác sĩ có thể đưa chẩn đoán ra như một sự trợ giúp. Ngoài ra, một số chuyên gia đề xuất cung cấp điều trị sức khỏe tâm thần mà không yêu cầu bệnh nhân phải thừa nhận vai trò của họ trong việc gây bệnh của họ. Trong cả hai trường hợp, truyền đạt đến bệnh nhân rằng việc hợp tác bác sĩ và bệnh nhân để giải quyết vấn đề là hữu ích. Bản quyền © 2023 Merck & Co., Inc., Rahway, NJ, USA và các chi nhánh của công ty. Bảo lưu mọi quyền.
Nguồn chủ đề GAD rối loạn lo âu lan tỏa là phổ biến, ảnh hưởng đến khoảng 3% dân số trong khoảng thời gian 1 năm. Phụ nữ có nguy cơ bị ảnh hưởng gấp đôi so với nam giới. Rối loạn này thường bắt đầu ở thời thơ ấu hoặc ở tuổi vị thành niên nhưng có thể bắt đầu ở bất kỳ lứa tuổi nào. Các triệu chứng và dấu hiệu của rối loạn lo âu lan toản Các lo lắng tập trung không bị hạn chế như trong các rối loạn tâm thần khác ví dụ, có một cơn hoảng sợ Cơn hoảng sợ và rối loạn hoảng sợ Một cơn hoảng sợ là sự khởi phát đột ngột của một giai đoạn ngắn, rời rạc với các khó chịu căng thẳng, lo âu, hoặc sợ hãi kèm theo các triệu chứng cơ thể và/hoặc triệu chứng nhận thức. Rối loạn... đọc thêm , bị xấu hổ ở nơi công cộng, hoặc bị làm ô nhiễm; bệnh nhân có nhiều loại lo lắng, thường thay đổi theo thời gian. Những lo lắng thường gặp bao gồm trách nhiệm với công việc và gia đình, tiền bạc, sức khỏe, sự an toàn, sửa chữa xe và công việc vặt. Các giai đoạn thường biến động và kéo dài, với diễn biến tệ hơn khi bị căng thẳng. Hầu hết các bệnh nhân bị GAD có một hoặc nhiều rối loạn tâm thần kèm theo, bao gồm trầm cảm điển hình Trầm cảm điển hình rối loạn đơn cực Các rối loạn trầm cảm được đặc trưng bởi buồn trầm trọng hoặc dai dẳng đủ để ảnh hưởng vào hoạt động chức năng và thường là do giảm sự quan tâm hoặc thích thú trong các hoạt động. Nguyên nhân... đọc thêm , ám ảnh sợ đặc hiệu Các rối loạn ám ảnh sợ đặc hiệu Những rối loạn ám ảnh sợ đặc hiệu bao gồm những nỗi sợ hãi dai dẳng, bất hợp lý, mãnh liệt ám ảnh sợ liên quan đến các tình huống, hoàn cảnh hoặc đối tượng cụ thể. Những nỗi sợ hãi gây ra... đọc thêm , ám ảnh sợ xã hội Ám ảnh sợ xã hội Ám ảnh sợ xã hội là lo sợ và lo âu về việc bị tiếp xúc với các tình huống xã hội hoặc trình diễn nào đó. Những tình huống này bị né tránh hoặc chịu đựng với lo âu đáng kể. Ám ảnh sợ là một loại... đọc thêm , rối loạn hoảng sợ Cơn hoảng sợ và rối loạn hoảng sợ Một cơn hoảng sợ là sự khởi phát đột ngột của một giai đoạn ngắn, rời rạc với các khó chịu căng thẳng, lo âu, hoặc sợ hãi kèm theo các triệu chứng cơ thể và/hoặc triệu chứng nhận thức. Rối loạn... đọc thêm . Tiêu chuẩn lâm sàngChẩn đoán là lâm sàng dựa trên các tiêu chí trong Cẩm nang chẩn đoán và thống kê về rối loạn tâm thần, Ấn bản lần thứ Năm DSM-5. Bệnh nhân có Lo âu quá mức và lo lắng về một số hoạt động hoặc sự kiệnBệnh nhân gặp khó khăn trong việc kiểm soát những lo lắng, số ngày bị lo lắng xuất hiện nhiều hơn những ngày không có triệu chứng và kéo dài ≥ 6 tháng. Những lo lắng cũng phải liên quan đến ≥ 3 trong số những điều sau đây Cảm giác bồn chồn hoặc căng thẳng hoặc bực dọcDễ bị mệt mỏiKhó tập trungCáu gắtCăng cơGiấc ngủ bị rối loạn Các thuốc chống trầm cảm và thường là các benzodiazepinBuspiron cũng có hiệu quả; liều bắt đầu là 5 mg uống 2 đến 3 lần/ngày. Tuy nhiên, buspiron có thể dùng liều trung bình cao tức là > 30 mg/ngày và mất ít nhất 2 tuần trước khi bắt đầu có hiệu pháp tâm lý, thường là liệu pháp nhận thức-hành vi, có thể vừa hỗ trợ vừa tập trung vào vấn đề. Thư giãn và phản hồi sinh học có thể có ích, mặc dù chỉ một số nghiên cứu chứng minh được hiệu quả của các phương pháp này. Bản quyền © 2023 Merck & Co., Inc., Rahway, NJ, USA và các chi nhánh của công ty. Bảo lưu mọi quyền.
Trang chủ » Tâm Lý » Rối loạn lo âu Nguyên nhân, triệu chứng và điều trị Bài viết được tham khảo từ Chuyên gia tâm lý Trần Anh Vũ và các nguồn tư liệu đáng tin cậy trong và ngoài nước. Tuy nhiên, Docosan Team khuyến khích bệnh nhân hãy tìm và đặt lịch hẹn với bác sĩ có chuyên môn để điều trị trên Lo lắng là một cảm xúc bình thường của con người. Đó là cách bộ não phản ứng với căng thẳng và cảnh báo bạn về mối nguy hiểm tiềm tàng phía trước. Bất kỳ ai cũng có thể thỉnh thoảng lo lắng. Tuy nhiên, rối loạn lo âu là một tình trạng khác với lo lắng thông thường. Bài viết sau đây sẽ cung cấp bạn đọc những thông tin hữu ích về bệnh rối loạn lo âu. Tóm tắt nội dung1 1. Rối loạn lo âu là gì?2 2. Các loại rối loạn lo âu3 3. Nguyên nhân của rối loạn lo âu4 4. Các triệu chứng rối loạn lo âu5 5. Điều trị rối loạn lo âu6 6. Chuyên gia tâm lý và Trung tâm tư vấn uy tín 1. Rối loạn lo âu là gì? Rối loạn lo âu là một nhóm bệnh tâm thần gây ra lo lắng và sợ hãi thường xuyên. Sự lo lắng quá mức có thể khiến bạn cảm thấy muốn tránh các hoạt động thường ngày như đi làm, đi học, gặp gỡ gia đình. Các tình huống xã hội khác có thể kích thích hoặc làm trầm trọng thêm các triệu chứng của chứng rối loạn lo âu. Một số chứng rối loạn lo âu phổ biến bao gồm Rối loạn lo âu lan toả Generalized Anxiety Disorder – GAD. Bạn cảm thấy lo lắng và căng thẳng quá mức về những điều không thực tế, không có lý do hoặc lý do không loạn hoảng sợ. Bạn cảm thấy sợ hãi đột ngột và dữ dội, khiến bạn ở trong cơn hoảng loạn. Bạn có thể đổ mồ hôi, đau ngực và tim đập thình thịch đánh trống ngực. Đôi khi bạn cảm thấy như bị nghẹt thở hoặc lên cơn đau loạn lo âu xã hội. Còn được gọi là ám ảnh xã hội. Bạn lo lắng một cách ám ảnh và tự giác quá mức về những tình huống xã hội thường ngày. Bạn quan tâm quá mức về việc người khác đánh giá hoặc chế giễu ám ảnh cụ thể. Bạn cảm thấy sợ hãi tột độ về một đối tượng hoặc tình huống cụ thể, chẳng hạn như sợ độ cao hoặc đi máy bay. Ám ảnh sợ khoảng trống Agoraphobia. Bạn có nỗi sợ hãi rất lớn khi ở một nơi mà dường như bạn khó có thể thoát ra ngoài hoặc tìm sự giúp đỡ nếu trường hợp khẩn cấp xảy ra. Ví dụ, bạn bị hoảng sợ hoặc cảm thấy lo lắng khi ở trên máy bay, phương tiện giao thông công cộng hoặc đứng trong đám chứng lo lắng bị xa cách. Đối với hội chứng này, bạn sẽ cảm thấy rất lo lắng hoặc sợ hãi khi một người mà bạn thân thiết rời khỏi tầm mắt của bạn. Bạn sẽ luôn lo lắng rằng điều gì đó tồi tệ có thể xảy ra với người thân của bạn. Bất kỳ ai cũng có thể mắc chứng lo lắng bị xa im lặng chọn lọc. Đây là một dạng hội chứng sợ xã hội, trong đó trẻ nhỏ nói chuyện bình thường với các thành viên trong gia đình nhưng lại không thể nói chuyện ở nơi công cộng, ví dụ như ở trường loạn lo âu do thuốc. Sử dụng hoặc ngừng một số loại thuốc nhất định, sử dụng các loại thuốc bất hợp pháp có thể gây ra một số triệu chứng của rối loạn lo âu. 3. Nguyên nhân của rối loạn lo âu Các nhà nghiên cứu không biết chính xác điều gì gây ra chứng rối loạn lo âu, đó có thể là sự kết hợp phức tạp của nhiều yếu tố. Một số nguyên nhân của rối loạn lo âu bao gồm Di truyềnChất hóa học trong não. Một số nghiên cứu cho thấy rối loạn lo âu có thể liên quan đến việc dẫn truyền các tín hiệu thần kinh trong não kiểm soát nỗi sợ hãi và cảm xúc gặp vấn trường căng thẳng. Liên quan đến những sự kiện mà bệnh nhân đã thấy hoặc trải qua. Các sự kiện thường bao gồm bị lạm dụng và bỏ rơi thời thơ ấu, sự qua đời của một người thân, bị tấn công hoặc nhìn thấy bạo dụng thuốc hoặc sử dụng không đúng chỉ định. Người bị rối loạn lo âu có thể đi cùng với việc sử dụng rượu và chất gây nghiện không kiểm kiện y tế. Một số tình trạng về tim, phổi và tuyến giáp có thể gây ra các triệu chứng tương tự như rối loạn lo âu hoặc làm cho các triệu chứng lo lắng tồi tệ hơn. Rối loạn lo âu khác với sự lo lắng thông thường Các yếu tố làm tăng nguy cơ gây rối loạn lo âu bao gồm Tiền sử rối loạn sức khỏe tâm thần. Mắc một chứng rối loạn sức khỏe tâm thần khác, chẳng hạn như trầm cảm, cũng làm tăng nguy cơ mắc chứng rối loạn lo dụng tình dục thời thơ ấu. Bị lạm dụng cảm xúc, thể chất, tình dục hoặc bị chối bỏ trong thời thơ ấu có liên quan đến chứng rối loạn lo âu sau thương. Trải qua các đợt chấn thương làm tăng nguy cơ mắc chứng rối loạn căng thẳng sau chấn thương PTSD, gây ra các cơn hoảng sự kiện tiêu cực trong cuộc sống. Các sự kiện căng thẳng hoặc tiêu cực, chẳng hạn như mất cha mẹ lúc nhỏ làm tăng nguy cơ mắc chứng rối loạn lo nặng hoặc bệnh mãn tính. Thường xuyên lo lắng về sức khỏe của chính mình hoặc sức khỏe của người thân, hoặc bạn đang chăm sóc người bị bệnh có thể khiến bạn cảm thấy quá tải và lo dụng chất gây nghiện. Việc sử dụng rượu và ma túy bất hợp pháp khiến bạn có nhiều khả năng bị rối loạn lo âu. Một số người cũng sử dụng các chất này để che giấu hoặc giảm bớt các triệu chứng lo nhát khi còn nhỏ. Sự nhút nhát và trốn tránh khỏi những người không quen biết và địa điểm xa lạ lúc nhỏ có liên quan đến chứng lo âu xã hội ở thanh thiếu niên và người tự tôn thấp. Nhận thức tiêu cực về bản thân có thể dẫn đến chứng rối loạn lo âu xã hội. 4. Các triệu chứng rối loạn lo âu Triệu chứng chính của rối loạn lo âu là sợ hãi hoặc lo lắng quá mức. Rối loạn lo âu cũng có thể khiến bạn khó thở, khó ngủ, khó tập trung. Các triệu chứng cụ thể của bạn phụ thuộc vào loại rối loạn lo âu mà bạn mắc phải. Các triệu chứng thường gặp là Hoảng sợ và lo giác hoảng sợ về cái chết hoặc sự nguy vấn đề về giấc thể bình hoặc chân lạnh, đổ mồ hôi, tê hoặc ngứa nhanh và gấp hơn bình đập nghĩ về một vấn đề lặp đi lặp lại và không thể dừng có khả năng tập xa các đồ vật hoặc địa điểm gây sợ hãi. 5. Điều trị rối loạn lo âu Các phương pháp điều trị và kiểm soát các triệu chứng của rối loạn lo âu thường bao gồm Sử dụng thuốc để điều trị rối loạn lo âu. Hãy thảo luận với bác sĩ để được tư vấn những loại thuốc phù hợp. Tâm lý trị liệu đây là một phương pháp giúp bạn hiểu cảm xúc ảnh hưởng đến hành vi như thế nào. Một chuyên viên sức khoẻ tâm thần được tập huấn sẽ ngồi nghe và nói chuyện với bạn về những suy nghĩ và cảm xúc của bạn, sau đó gợi ý những cách để hiểu và kiểm soát cảm xúc, hành vi cũng như chứng rối loạn lo âu của bạn. Bạn cần hiểu rõ rối loạn lo âu của bản thân và tuân thủ kế hoạch điều trị để đảm bảo đạt được hiệu quả điều trị tối ưu. Ngoài ra có một số cách giúp bạn kiểm soát được các triệu chứng của mình, chẳng hạn như Cắt giảm thực phẩm và đồ uống có caffeine, chẳng hạn như cà phê, trà, coca cola, nước tăng lực và sô cô la. Caffeine là một loại chất thay đổi tâm trạng và nó có thể làm cho các triệu chứng rối loạn lo âu tồi tệ hơn. Ngừng sử dụng thức uống có cồn và ma tuý tiêu khiển. Lạm dụng các chất này làm tăng nguy cơ rối loạn lo âu. Ăn uống đúng cách và tập thể dục giúp giải phóng các chất hóa học trong não, làm giảm căng thẳng và cải thiện tâm trạng của bạn. Các vấn đề về giấc ngủ và rối loạn lo âu thường đi đôi với nhau. Hãy ưu tiên việc nghỉ ngơi tốt, có thói quen thư giãn trước khi đi ngủ. Bạn có thể thử thiền hoặc thiền chánh niệm để giúp bạn thư giãn sau một ngày căng thẳng và có thể giúp việc điều trị của bạn đạt hiệu quả tốt hơn. Viết ra những suy nghĩ của bạn trước khi một ngày kết thúc có thể giúp bạn thư giãn để không phải trằn trọc với những suy nghĩ lo lắng cả đêm. Luyện tập suy nghĩ tích cực. Gặp gỡ và trò chuyện với bạn bè. Một số người cảm thấy tốt hơn khi nói chuyện với những người khác đang trải qua các triệu chứng và cảm xúc tương tự. Hãy liên hệ bác sĩ hoặc dược sĩ trước khi dùng bất kỳ loại thuốc hoặc thảo dược nào. Nhiều loại hóa chất có thể làm cho các triệu chứng lo lắng trở nên tồi tệ hơn. 6. Chuyên gia tâm lý và Trung tâm tư vấn uy tín SHARE được thành lập từ năm 2008 – là một trong những trung tâm điều trị tâm lý đầu tiên tại Hà gia Trần Anh Vũ đã có 9 năm kinh nghiệm trong việc tham vấn và điều trị tâm gia tâm lý Đoàn Thị Hương là một trong những Thạc sỹ tâm lý lâm sàng đầu tiên trong chương trình hợp tác đào tạo thạc sỹ lâm sàng giữa Trường Đại học giáo dục Hà Nội và Trường Đại học Vanderbilt Hoa Kỳ. Việc điều trị rối loạn lo âu cần sự kiên nhẫn để tìm ra phương pháp điều trị phù hợp với bạn. Đối với hầu hết những người bị rối loạn lo âu, sự kết hợp giữa thuốc và tư vấn tâm lý là lựa chọn tốt hơn cả. Với sự chăm sóc và điều trị thích hợp, bệnh nhân có thể học được cách kiểm soát các triệu chứng. Nguồn tham khảo webmd điều trị rối loạn lo âurối loạn lo âurối loạn lo âu là gì
bệnh án tâm thần rối loạn lo âu